Thiên thủy tụng

Dưới đây là lời giảng Quẻ Thiên Thủy Tụng theo sách "Kinh dịch - Đạo của người quân tử" của học giả Nguyễn Hiến Lê


*

:|:||| Thiên Thủy Tụng (訟 sòng)

Quẻ Thiên Thủy Tụng, còn hiểu là quẻ Tụng 訟 (song4), là quẻ thứ 06 vào Kinch Dịch.

Bạn đang xem: Thiên thủy tụng

* Nội quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm hay Ncầu (水).

* Ngoại quái là ☰ (||| 乾 qian2) Càn xuất xắc Trời (天).

Giải nghĩa: Luận dã. Bất hòa. Bàn cãi, kiện tụng, bàn tính, cãi vã, tnhãi nhép luận, bàn luận. Đại tiểu bất hòa đưa ra tượng: lớn nhỏ không hòa.

Tự quái truyện đã cho Nhu là ăn uống, vì thế giảng rằng vì (vấn đề) ăn uống mà người ta hiện ra tnhóc nhau, rồi kiện nhau, vì thế sau quẻ Nhu là quẻ Tụng (có nghĩa là kiện cáo)

Thoán từ:

訟 . 有 孚 , 窒, 惕 . 中 吉 . 終 凶 . 利 見 大 人 . 不 利 涉 大 川.

Tụng: Hữu phu, trất, dịch. Trung cát, chung hung

Lợi kiến đại nhân, bất lợi thiệp đại xulặng.

Dịch: Kiện cáo vì mình tin thực mà bị oan ức (trất), ra đời lo sợ (dịch). Nếu giỡ đạo trung (biện bạch được rồi thì thôi) thì tuyệt lành,nếu kiện đến đến cùng thì xấu. Tìm được bậc đại nhân (công minh) mà nghe theo thì chỉ có lợi, nếu ko thì như lội qua sông lớn (nguy), không có lợi.

Giảng: Theo tượng quẻ này có thể giảng: người bên trên ( quẻ Càn) là dương cương, áp chế người dưới,mà người dưới ( quẻ Khảm) thì âm hiểm, tất hiện ra kiện cáo, hoặc mang lại cả trùng quái chỉ nên một người, vào lòng thì nmê say hiểm (nội quái là Khảm), mà ngoài thì cương cường (ngoại quái là Càn), tất sinc sự tạo ra kiện cáo.

Thoán từ của Chu Công ko gọi hai cách đó mà mang đến quẻ này là trường hợp một người có lòng tin thực (hữu phu) mà bị oan ức, vu hãm, ko có người xét rõ đến, vì thế lo sợ, phải đi kiện. Nếu người đó giữ đạo trung như hào 2 (đắc trung), nghĩa là minh oan được rồi thì thôi, thì sẽ tuyệt, nếu cứ treo đuổi mang lại tới cùng, quyết thắng, không chịu thôi, thì sẽ xấu.

Quẻ khuim người đó đề nghị đi tìm bậc đại nhân lực minh (tức hào 5 - ứng với hào 2, vừa trung ,chính, vừa ở ngôi cao), mà nghe lời người đó thì có lợi; nếu không cho nên tự mình tìm sự nguy hại, nlỗi lội qua sông lớn.

Đại tượng truyện giới thiệu một cách giảng khác nữa: Càn (trời) có xu hướng đi lên; Khảm (nước) có xu hướng chảy xuống thấp, nlỗi vậy là trái ngược nhau, cũng như hai chỗ bất đồng đạo, tranh con nhau mà hình thành kiện cáo. Và Đại tượng truyện khuim người quân tử làm việc gì cũng yêu cầu cẩn thận từ lúc đầu để né kiện cáo.

Hào từ:

1. 初 六: 不 永 所 事 , 小 有 言 , 終 吉 .

Sơ lục: Bất vinc sở sự, tiểu hữu ngôn, phổ biến cát.

Dịch: Hào 1 âm: đừng kéo dài (vụ kiện) làm gì, Tuy bị trách một chút, tuy vậy sau được xuất xắc.

Giảng: Hào 1, âm nhu ở dưới, được hào 4 cương cứng kiện ở bên trên ứng viện, tức là có chỗ dựa; tuy nhiên đừng yêu cầu ỷ thế sinc sự kéo dài vụ kiện; có bị trách một chút thì cũng thôi, kết quả được biện minc, thế là giỏi.

2. 九 二: 不 克 訟 , 歸 而 逋. 其 邑 人 三 百 戶, 无 眚.

Cửu nhị: Bất khắc tụng, qui nhi bô. Kì ấp nhân tam bách hộ, vô sảnh.

Dịch: Hào 2, dương : tránh việc kiện, lui về mà kiêng đi, ấp mình chỉ có tía trăm nóc nhà thôi (ý nói địa vị mình thấp, thế mình nhỏ), nhỏng vậy thì ko bị họa.

Giảng: Trong phần I, cmùi hương IV, chúng tôi đã nói: các hào ứng với nhau (1 với 4, 2 với 5, 3 với 6) phải một dương một âm thì mới có “tình” với nhau, mới đứng vào một phe, viện trợ nhau, tức trường hợp hào 1 và hào 4 quẻ này; nếu cả hai cùng là dương xuất xắc là âm thì tuy ứng nhau đấy, nhưng mà có thể né nhau, cũng nhỏng hào 2 và hào 5 quẻ này. Hai hào này đều là dương cả, vì thế coi là địch nhau, đứng vào nhì phe ở vào quẻ tụng (kiện cáo).

Hào 2 ở dưới, trung chứ không chính, ở giữa nội quái là Khảm (hiểm) lại bị nhì hào âm 1 và 3 vậy, buộc phải thế yếu, muốn kiện hào 5 (vì 2 có tính dương cương) tuy thế thế không địch nổi, vì 5 trung , chính lại ở ngôi cao. Dưới kiện bên trên khác gì trứng chọi đá, tránh việc, thà rút lui về, kiêng đi còn hơn, như vậy không bị tội lỗi.

Phan Bội Châu giảng hào này, dẫn việc Nguyễn Hoàng muốn kình với Trịnh Kiểm (sự thực Trịnh Kiểm muốn hại Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hoàng sợ), đến người hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đáp: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, có ý khuim nên trốn kiêng vào Nam mang lại thoát nạn; đó là ý nghĩa ba chữ “qui nhi bô” vào hào này.

Xem thêm: Có Nên Xông Hơi Sau Khi Tập Gym, Vì Sao Nơi Tập Gym Thường Có Phòng Xông Hơi

3. 六 三 : 食 舊 德, 貞 厲, 終 吉 . 或 從 王 事 , 无 成.

Lục tam: Thực cựu đức, trinh lệ,

Chung cát; hoặc tòng vương sự, vô thành.

Dịch: Hào 3 âm, Cứ (yên ổn ổn) hưởng cái đức (ân trạch) cũ của mình (Chu Hi hiểu là giữ cái nếp cũ), ăn ở đến chính đáng mà thường để lòng lo sợ thì kết quả sẽ tốt; nếu phải đi theo làm với người bên trên (chữ vương ở phía trên trở người bên trên, ko nhất định là vua), thì cũng đừng hy vọng thành công.

Giảng: Hào 3 đã âm nhu lại bất chính (vì hào âm mà ở ngôi dương, ở chông chênh bên trên cùng quẻ Khảm (hiểm), phổ biến quanh đều là kẻ thích khiến sự, kiện cáo (vì hào 2 và 4 đều là dương), cho nên 3 thường phải lo sợ (lệ), nếu hiểu vậy mà biết giữ gìn thì rốt cuộc sẽ lặng ổn.

Hào 3 có hào 5 ở bên trên ứng và có “tình” với mình, 6 là dương cương lại là bề trên (ngôi cao), cần có lúc lôi kéo 3 theo nó; trong trường hợp đó, 3 phải an phận thủ thường, cứ phục tùng 6, đừng hy vọng thành công (chẳng hạn 6 muốn đứng ra kiện, kéo 3 theo thì 3 chỉ yêu cầu giúp 6 rước lệ thôi, đừng ham mê lập công).

4. 九 四 : 不克 訟 , 復 即 命, 渝 , 安 貞 吉 .

Cửu tứ: Bất khắc tụng, phục tức mệnh, du, an trinh cát.

Dịch: Hào 4, dương : ko thể kiện cáo được, trở lại theo thiên mệnh (lẽ chính đáng), đổi ý đi, ở yên theo điều chính thì xuất xắc.

Giảng: Hào này dương cương mà bất trung, bất chính, “tượng” một người mê say kiện cáo. Nhưng không thể kiện ai được: kiện 5 thì 5 ở bên trên mình, ngôi tôn, không dám kiện; kiện 3 thì 3 nhu thuận, chịu thảm bại trứơc rồi; kiện 2 thì 2 vừa cưng cửng, chính , trung, sáng suốt, đã tiên liệu rồi, không chịu kiện; còn 1 thì đã về phe với 4. Đành phải bỏ ý tê mê kiện đi, theo lẽ phải, ở yên ổn, giữ điều chính, nlỗi vậy thì hay.

5. 九 五 : 訟, 元 吉 .

Cửu ngũ: Tụng, nguim cát.

Dịch: Hào 5 dương : xử kiện hay phải đi kiện, đều rất tốt.

Giảng: Hào 5 này ở ngôi chí tôn, cương cứng mà minch, trung và chính. Nếu là người xử kiện chính vậy bậc có đức, có tài (nlỗi Bao Công); nếu là người đi kiện thì gặp đựơc quan liêu tòa có đức, có tài. Không gì hay bằng.

6. 上 九 : 或 錫 之 鞶 帶 , 終 朝, 三 褫 之.

Thượng cửu: hoặc tích bỏ ra bàn đái, chung triêu, tam sỉ chi.

Dịch: hào trên cùng, dương : (kiện ) may mà được cái đai lớn (của quan liêu chức) thì trong một buổi sáng sẽ bị cướp cha lần.

Giảng: Hào dương này ở trên cùng quẻ Tụng là kẻ rất thích kiện, kiện tới cùng. Nó ở ngôi 6 là bất chính, cho nên vì vậy dù có may ra được kiện, thì chẳng bao lâu cũng sẽ mất hết, rốt cuộc vẫn không lợi.

***

Quẻ tụng này ý nghĩa các hào rất nhất trí, sáng sủa.

Trước sau chỉ với răn người ta đừng đắm đuối tnhãi nhau kiện cáo: hào 3 không kiện với ai, tốt; hào 2 muốn kiện mà sau thôi không kiện, cũng tốt; hào 1 bị kiện thì bắt buộc nhường nhịn một chút, rốt cuộc sẽ hay, duy có hào 6 bằng kiện tới cùng thì dù có thắng, cũng hóa xấu.

Xem thêm: Sữa Tươi Mật Ong Với Sữa? Có Nên Trộn Mật Ong Với Sữa

Còn hào 5 diễn cái ý: có một Tòa án công minch thì phục mang lại dân biết bao.


Chuyên mục: Kiến thức bổ ích